24 tiết khí năm 2027: ngày đầy đủ và cách dùng

Hai mươi tư tiết khí năm 2027 chạy từ Tiểu Hàn ngày 5 tháng 1 đến Đông Chí ngày 22 tháng 12, mỗi tiết cách nhau khoảng nửa tháng. Đây không phải các ngày âm lịch. Mỗi tiết là thời điểm mặt trời đi tới một mốc nhất định trên đường biểu kiến của nó, nên ngày dương lịch của tiết gần như đứng yên qua các năm, trong khi ngày âm thì trôi. Chính vì vậy tiết khí là bộ khung cố định giúp lịch âm dương không lệch khỏi mùa. Bài viết gom đủ 24 ngày của năm 2027 và giải thích cách dùng.
Tiết khí là gì và vì sao ngày gần như cố định
Đường đi biểu kiến của mặt trời được chia thành 24 đoạn bằng nhau, mỗi đoạn 15 độ. Một tiết khí là thời điểm mặt trời bước vào một đoạn. Tiết đầu tiên là Lập Xuân, ứng với kinh độ 315 độ; mỗi tiết sau cộng thêm 15 độ.
Vì định nghĩa dựa trên thiên văn chứ không dựa trên phép đếm, mỗi tiết là một thời điểm chứ không phải một ngày trọn vẹn. Ngày in trên lịch là ngày mà thời điểm đó rơi vào, tính theo múi giờ mà lịch dùng. Lịch Trung Quốc thường dùng giờ Bắc Kinh, tức UTC+8.
Tên các tiết được đặt cho nông nghiệp ở lưu vực Hoàng Hà và mô tả thời tiết: sâu tỉnh giấc, mưa hạt, móc trắng, sương giáng. Tên vẫn hữu ích như một cách mô tả vị trí mùa, kể cả ở nơi khí hậu không giống lưu vực Hoàng Hà.
24 tiết được chia thành hai nhóm mười hai. Nhóm tiết lớn, gồm Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh, Lập Hạ và các tiết mở đầu mùa khác, đánh dấu mốc đầu tháng theo lịch tiết; nhóm tiết giữa, gồm Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí cùng các tiết còn lại, đánh dấu điểm giữa của mỗi tháng tiết. Với phần lớn người dùng, sự phân chia này chỉ quan trọng khi lá số hoặc sách chọn ngày nói tới mốc tháng, vì hệ đó tính tháng từ tiết lớn chứ không từ ngày trăng non.
Bảng 24 tiết khí năm 2027
| STT | Tiết khí | Ngày 2027 | Ý nghĩa ngắn |
|---|---|---|---|
| 1 | Tiểu Hàn | 5 tháng 1 | Bắt đầu rét |
| 2 | Đại Hàn | 20 tháng 1 | Rét nhất |
| 3 | Lập Xuân | 4 tháng 2 | Mở đầu mùa xuân, mốc trụ năm |
| 4 | Vũ Thủy | 19 tháng 2 | Mưa thay tuyết |
| 5 | Kinh Trập | 6 tháng 3 | Sâu tỉnh giấc, có sấm |
| 6 | Xuân Phân | 21 tháng 3 | Ngày đêm dài bằng nhau |
| 7 | Thanh Minh | 5 tháng 4 | Tảo mộ, tiết trong trẻo |
| 8 | Cốc Vũ | 20 tháng 4 | Mưa nuôi hạt |
| 9 | Lập Hạ | 6 tháng 5 | Mở đầu mùa hạ |
| 10 | Tiểu Mãn | 21 tháng 5 | Hạt đang vào chắc |
| 11 | Mang Chủng | 6 tháng 6 | Gặt và cấy lại |
| 12 | Hạ Chí | 21 tháng 6 | Ngày dài nhất |
| 13 | Tiểu Thử | 7 tháng 7 | Nóng dần |
| 14 | Đại Thử | 23 tháng 7 | Nóng nhất |
| 15 | Lập Thu | 8 tháng 8 | Mở đầu mùa thu |
| 16 | Xử Thử | 23 tháng 8 | Nóng dịu |
| 17 | Bạch Lộ | 8 tháng 9 | Móc đọng trắng |
| 18 | Thu Phân | 23 tháng 9 | Ngày đêm dài bằng nhau |
| 19 | Hàn Lộ | 8 tháng 10 | Móc lạnh |
| 20 | Sương Giáng | 23 tháng 10 | Sương xuống |
| 21 | Lập Đông | 7 tháng 11 | Mở đầu mùa đông |
| 22 | Tiểu Tuyết | 22 tháng 11 | Bắt đầu có tuyết |
| 23 | Đại Tuyết | 7 tháng 12 | Tuyết dày |
| 24 | Đông Chí | 22 tháng 12 | Đêm dài nhất |
Hai mốc cần chú ý riêng là Lập Xuân ngày 4 tháng 2 và Thanh Minh ngày 5 tháng 4, vì cả hai mang thêm một chức năng ngoài việc đánh dấu mùa.
Khoảng cách giữa các tiết không đều
Nhìn bảng sẽ thấy các tiết không cách nhau đúng 15 ngày. Khoảng cách dao động từ 14 đến 16 ngày, vì vận tốc quỹ đạo của trái đất thay đổi trong năm: nhanh nhất vào đầu tháng 1 và chậm nhất vào đầu tháng 7. Trong bảng trên, khoảng ngắn nhất là 14 ngày từ Đông Chí 22 tháng 12 đến Tiểu Hàn 5 tháng 1, còn khoảng dài nhất là 16 ngày từ Tiểu Thử 7 tháng 7 đến Đại Thử 23 tháng 7, và từ Đại Thử đến Lập Thu 8 tháng 8.
Sự so le này là đặc điểm của quỹ đạo, không phải lỗi của bảng. Người lập kế hoạch theo tiết nên tra ngày từng tiết thay vì cộng 15 ngày.
Tiết khí được dùng trong những việc gì
Việc thứ nhất là mốc đổi năm. Ngày mùng một Tết năm 2027 là 6 tháng 2, nhưng trụ năm trong lá số đổi tại Lập Xuân 4 tháng 2. Người sinh trong khoảng giữa hai mốc này thuộc năm cũ theo lá số và năm mới theo cách tính Tết. Phần ngày lễ đầu năm được trình bày trong bài Tết 2027.
Việc thứ hai là Tết Thanh Minh. Lễ tảo mộ đi theo ngày của tiết Thanh Minh, năm 2027 là 5 tháng 4. Vì đi theo tiết chứ không theo ngày cố định, có năm lễ rơi vào 4 tháng 4, có năm vào 5 tháng 4.
Việc thứ ba là chọn ngày. Mỗi ngày trên lịch vạn niên đều được gắn nhãn tiết khí mà nó thuộc về, và nhãn này được dùng khi cần chọn ngày cho việc có ràng buộc mùa như động thổ hay nhập trạch. Muốn xem nhãn tiết khí của một ngày, mở lịch vạn niên và chọn đúng ngày đó.
Việc thứ tư là Đông Chí 22 tháng 12. Đây là mốc mà sau đó ngày dài dần, và ở nhiều nơi được tính là dịp sum họp gia đình trước Tết dương lịch.
Còn một cách dùng thực tế hơn là nông vụ. Nhiều nơi vẫn theo tiết để gieo cấy: Mang Chủng là lúc cấy lúa, Tiểu Thử là lúc gặt lúa mì, khoảng giữa Thanh Minh và Cốc Vũ là cửa sổ gieo hạt an toàn ở nhiều vùng. Đây là kinh nghiệm chứ không phải quy tắc thiên văn, và tập quán địa phương luôn được ưu tiên khi hai bên khác nhau.
Nhầm lẫn thường gặp về tiết khí
Nhầm lẫn thứ nhất là coi tiết khí là ngày âm lịch. Tiết khí là mốc dương lịch, ngày gần như cố định; ngày âm thì đổi mỗi năm.
Nhầm lẫn thứ hai là cho rằng mỗi tiết rơi đúng một ngày qua các năm. Thực tế nó dao động trong khoảng một ngày, nên bảng của năm khác không dùng lại được mà phải tra.
Nhầm lẫn thứ ba là cho rằng tiết bắt đầu lúc nửa đêm. Tiết bắt đầu tại một thời điểm, có thể là giữa ngày; lịch in ngày chứ không in thời điểm, và với nhu cầu thông thường thì ngày là đủ.
Nhầm lẫn thứ tư là cho rằng tiết rơi cùng ngày ở mọi nơi. Vì thời điểm được quy về ngày địa phương, nơi cách múi giờ chuẩn vài giờ có thể ghi tiết sang ngày bên cạnh.
Nhầm lẫn thứ năm là lẫn giữa Thanh Minh là tiết và Thanh Minh là dịp lễ. Lịch nghỉ do mỗi nước quy định và có thể lệch vài ngày so với tiết.
Nhầm lẫn thứ sáu là cho rằng lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc luôn trùng nhau ở mọi mốc. Phần lớn các năm thì trùng, nhưng do khác múi giờ khi quy đổi thời điểm, một số năm có thể lệch một ngày; bài so sánh lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc trình bày rõ cơ chế này.
Cách tra một tiết trên lịch
Muốn kiểm tra một ngày trong bảng, mở lịch vạn niên, vào tháng tương ứng và đọc nhãn tiết khí của ngày. Nếu hai nguồn lệch một ngày, nguyên nhân hầu như luôn là múi giờ dùng để quy đổi hoặc phiên bản dữ liệu thiên văn phía sau.
Ví dụ khi tra ngày 15 tháng 9 năm 2027, trang ngày ghi rằm tháng Tám, tiết Bạch Lộ, can chi Đinh Dậu. So với bảng trên, Bạch Lộ rơi vào 8 tháng 9, nên ngày 15 tháng 9 vẫn nằm trong tiết Bạch Lộ chứ chưa sang Thu Phân ngày 23 tháng 9. Cách đối chiếu này dùng được cho mọi ngày trong năm và không cần tính toán.
Với người cần đối chiếu cả năm, cách gọn nhất là lưu bảng trên lại rồi mỗi khi cần thì tra ngày trên lịch để xác nhận. Bảng tháng âm của năm 2027 nằm trong bài lịch âm 2027, dùng kèm với bảng tiết khí này sẽ đủ để tra mọi ngày trong năm.
Tóm lại, chỉ cần nhớ bốn mốc lớn: Lập Xuân 4 tháng 2, Thanh Minh 5 tháng 4, Lập Thu 8 tháng 8 và Đông Chí 22 tháng 12. Bốn mốc này chia năm thành bốn đoạn đều, đủ để định vị mọi tiết còn lại.
Câu hỏi thường gặp
Năm 2027 có bao nhiêu tiết khí?
Có 24 tiết, cách nhau khoảng 15 ngày, bắt đầu bằng Tiểu Hàn ngày 5 tháng 1 và kết thúc bằng Đông Chí ngày 22 tháng 12 năm 2027.
Lập Xuân 2027 là ngày nào?
Lập Xuân rơi vào 4 tháng 2 năm 2027. Đây là tiết mở đầu mùa xuân và cũng là mốc đổi trụ năm trong lá số, nên người sinh đầu tháng 2 cần lưu ý.
Thanh Minh 2027 là ngày nào?
Thanh Minh rơi vào 5 tháng 4 năm 2027. Tết Thanh Minh đi theo tiết khí chứ không theo ngày âm, nên ngày dương lịch của nó gần như đứng yên qua các năm.
Tiết khí có phải là ngày âm lịch không?
Không. Tiết khí tính theo vị trí của mặt trời nên là mốc dương lịch; ngày âm tính theo chu kỳ trăng. Lịch âm dương Việt Nam dùng cả hai: tháng theo trăng, tiết theo mặt trời.
Vì sao ngày tiết khí xê dịch một ngày giữa các năm?
Vì năm dương lịch không tròn số ngày, nên thời điểm mặt trời tới mỗi mốc 15 độ lệch khoảng sáu giờ mỗi năm. Năm nhuận bù lại phần lớn, khiến ngày tiết chỉ dao động trong khoảng một ngày.